Hương Xưa

Hương Xưa

ap_20110426121355462

Tâm Thanh –

Cây soan làm hồn tôi choáng ngợp. Tôi chỉ thấy màu tím nhạt nhòa như mây vương trên tàn lá màu lục, lửng lơ giữa bầu trời hè xanh trong điểm mây trắng.
“Đông! Anh sao vậy?” Karin, cô nhiếp ảnh đi chung, vỗ vai tôi.
Tôi giật mình, tỉnh người, nhưng mắt vẫn không rời được vùng tím lưng trời.
“Cây hoa tím này, tôi không biết tiếng Na-uy gọi là gì…”
Karin đã nhiều lần thấy tôi thẫn thờ, như lúc máy bay hạ thấp vào không phận Sài Gòn, tôi thấy những thửa ruộng, những mái nhà trải ra bên dưới; lúc tôi nghe xôn xao tiếng mẹ đẻ ùa vào tai; lúc tôi thấy một cây cầu khỉ vắt vẻo qua con lạch… Cô đã quen và thông cảm với một người trở lại quê hương sau mười lăm năm xa cách, tuy, theo cô, tôi hơi đa cảm so với con người tôi mà cô quen biết hằng ngày trước đây. Đôi khi cô rình chụp tôi, cô nói biết đâu những hình ảnh này có thể dùng cho bài phóng sự của chúng tôi.
“Mười lăm năm không gặp…?” Karin hóm hỉnh.
“Không phải mười lăm năm, mà lâu hơn nhiều.” Tôi cải chính.
“Anh mới bỏ Việt Nam mười lăm năm thôi mà?”
“Nhưng cái cây này… chỉ mọc ở quê hương miền Bắc của tôi. Tôi bỏ miền Bắc từ nhỏ.”
Nụ cười Karin hiền. Tôi đoán cô cười vì những chữ “cái cây này” của tôi. Sao tôi biết đó là cây này hay cây kia? Nhưng đối với tôi, chỉ có một cây soan trên đời. Cây soan vào mùa đông trụi lá, cành khô lẩn vào sương mờ như một ni cô, nhưng đến khoảng giữa mùa xuân thì bừng nở hoa tím, kiêu xa như một nàng tiên giáng trần.
“Đối với tôi, chỉ có một cây soan của tuổi thơ, ừ, cô cứ gọi tiếng Việt là ‘soan’, nào, ‘s…oa…n’. Nghe êm dịu không, Karin?”
“Không thấy gì cả.”
Thấy màu tím hoa soan hơi giống màu tím của hoa tử đinh hương, tôi hỏi:
“Syrin có gợi gì trong tai cô không?”
“Vừa trong tai, vừa trong mũi. Tôi ngửi thấy một buổi chiều thơm có gió rì rào.”
Karin hỏi chuyện khác:
“Quê anh ở đâu, Đông?”
Tôi lấy bản đồ chỉ một địa danh. Xong, tôi rủ cô vào một quán nước, nơi vẫn có thể nhìn thấy những bông hoa soan đong đưa. Gió núi từng cơn hừng hực. Karin áo loang mồ hôi. Cô có bộ ngực bề thế. Người tài xế cứ nhìn trộm hoài. Tôi kể tiếp:
“Di cư vào Nam, tôi vẫn mơ tưởng hoa soan, thích những người con gái có khuôn mặt trái soan. Vật đổi sao dời, hơn hai chục năm sau, tôi được tái ngộ cây soan khi trở về quê cũ như một người tù, trong số hàng ngàn sĩ quan, công chức và trí thức miền Nam. Toán chúng tôi được bỏ giữa rừng trong màn đêm trùng trùng. Sau một hồi cảnh cáo về hình phạt đương nhiên của trốn tù là cái chết, chúng tôi được tháo xiềng chân. Chúng tôi chỉ kịp trải tấm vải nhựa và lăn ra ngủ vùi. Gần sáng thì tôi thức giấc vì lạnh. Mùa đông ở đây lạnh khủng khiếp. Bây giờ cô khổ vì cái nóng, nhưng hồi đó tôi khổ vì lạnh.”
“Anh có nhớ nhà tù đó ở đâu không? Có gì mình đi tới đó quay phim?”
“Không, chúng tôi không định được vị trí.”
“Có thể là vùng này?”
“Tôi có cảm giác như vậy… Để tôi kể tiếp cô nghe:
Sáng hôm sau chúng tôi bắt đầu tự cất nhà ở. Cái cảm giác tê lạnh đêm hôm đã thúc đẩy chúng tôi nỗ lực cất nhà gấp cho kịp đêm xuống. Nhờ thế trong thời gian kỷ lục, cả trại đã ổn định, với hàng rào, hội trường để học tập chính trị, nhà cho quản giáo, cầu tiêu, láng giam, nhà bếp… Khi cất trại tù xong thì chúng tôi bắt đầu đi lao động, mà việc chính là đốn nứa và canh tác mưu sinh. Một buổi chiều đi rừng về, tới cổng trại, tôi làm một cử chỉ mà trước đây ít khi làm là ngẩng đầu lên. Tôi nhìn thấy cây soan. Mặc dầu vào mùa đông, cây soan trụi hết lá, và lâu năm không thấy cây soan, không nhớ hình thù “ni cô trong sương mù” của tôi ra sao… nhưng thấy cây khẳng khiu này vào mùa đông, tôi nhất định cho là cây soan.”
“Mà đúng là soan không?” Karin hỏi và hút một ngụm nước dừa.
“Cô đoán coi: Tôi mải nhìn cây mà ngẩn người, nên bước đi chậm lại. Tên gác tù quát: ‘Cái anh kia! Sao không đi mà đứng đực ra làm cái gì?’ Tôi nói ‘Cây soan! Ôi! Cây soan! Có phải cây soan không, cán bộ?’ Tôi không dằn được cảm xúc. Người gác tù quát: ‘Chỉ lãng mạn tiểu tư sản!’ Anh ta không thúc báng súng vào hông như mọi khi. Điều này khiến tôi ngạc nhiên, đêm nằm ngẫm nghĩ, và khám phá ra một điều thật an ủi rằng người gác tù đó cũng có lần rung động vì hoa soan. Bằng chứng là tôi vừa nhắc tới hoa soan anh ta đã cho là lãng mạn tiểu tư sản. Cô biết không, cô đoán đúng, cũng như tôi, cuối xuân, cây soan nở đầy hoa tím ngát.”
Karin khỏe như voi. Con gái mà vác cái camera Sony nặng mười hai kí quay phim hằng giờ không biết mỏi. Nhưng cô có một tâm hồn mềm yếu, ngay lúc ở Na-uy cũng thế, mỗi lần đi công tác chung, tôi kể một chuyện gì về quá khứ gian truân của tôi, cô đều rươm rướm nước mắt, và nói anh phải viết sách kể lại cuộc đời anh đi. Và bao giờ cô cũng đưa ra một cảm tưởng, gián tiếp coi như cái lý do tại sao tôi nên viết. Karin bây giờ cũng thế, mắt rươm rướm, nói:
“Hôm nay anh được tái ngộ cây soan một lần nữa, như một người tự do.”
Chúng tôi đi chuyến này một công đôi việc, thứ nhất là theo Công Chúa Na-uy về khánh thành một làng cô nhi ở Việt Trì, thứ hai là làm phóng sự về những người vượt biên sang Hồng Kông bị hồi hương. Tình cờ, lộ trình này gần trùng với lộ trình cuộc tản cư của gia đình tôi năm xưa. Thành ra, đi quay phim mà như đi hành hương.
Tôi không nhớ rõ mình kể cho cô đồng nghiệp Karin hay chỉ lẩm bẩm một mình truyện sau:

oOo

Thầy tôi đi đâu không biết mà đến tối mịt mới về nhà.
Ông nghiệm giọng ra lệnh: “Tản cư!”
Cả nhà vội vàng thu vén quần áo, tư trang, thực phẩm đi đường, dồn vào tay nải, sáng sớm hôm sau lên đường.
Tôi đương nhiên đi tay không. Lòng mừng khấp khởi nghĩ tới chuyến đi chắc là xa, rất xa. Chưa bao giờ được đi xa như thế. Từ Hà Nội lên Tam Đảo, Việt Trì, ngược Lạng Sơn. Có lúc đáp ô-tô, có lúc đi thuyền, có lúc đi bộ. Núi đồi hùng vĩ, đồi sim bát ngát, suối con, thác lớn, hoa đẹp, chim lạ… làm hồn trẻ thơ tôi ngây ngất. Những bữa ăn dọc đường, những câu truyện ma rừng mẹ kể trong quán trọ, trên đò dọc, đò ngang… khiến tôi như lạc vào thế giới nửa thần tiên, nửa quái dị, hư hư, thực thực. Ngay những lúc có báo động máy bay địch, người lớn lo âu, tôi đi nấp như chơi ú tim. Nhưng cuộc phiêu lưu kết thúc bằng một thảm kịch ở Lạng Sơn. Nhà tôi vừa định ở lại sinh sống trong một trang trại của bác Xiển, một đồng nghiệp với thầy tôi ở sở lục lộ. Mới được chừng một tuần lễ, tôi chưa được trèo hết các loại cây, chưa thuộc tên và tiếng hót, cách vỗ cánh của hết các loại chim, và cái ổ chim ròng rọc dài như trái mướp bên bờ suối chưa có trứng nào… thì anh Nuôi tôi bị tình nghi là Việt gian, bị chặt cổ bêu xác ngoài chợ.
Thầy mẹ tôi nuôi anh sau khi sanh ra hai người con đầu là gái cả, để… nhử cho con trai ra đời. Quả nhiên, sau khi anh Nuôi vào gia đình, thì anh Dũng, Hùng chen nhau ra chào đời một ngày. Mẹ sanh thêm hai người chị nữa rồi tới tôi, út. Anh Nuôi thương tôi nhất nhà, vì thế tôi khóc ngất đi khi nghe tin anh chết thảm. Và trong lòng lại nơm nớp lo sợ, lỡ anh bắt tôi theo. Tình cảm mâu thuẫn đó, tôi không dám thố lộ với ai, ngoài đứa con gái cùng tuổi, con Hương, con út bác Xiển.
Hương nói già:
“Hễ anh Nuôi bắt anh đi, em kéo anh lại.”
Nghe thế tôi vừa yên tâm phần nào, vừa khoái chí vì lần đầu tiên được gọi bằng anh.
Chôn cất anh Nuôi xong, thầy mẹ và hai bác Xiển xì xầm to nhỏ lâu lắm.
Một hôm thầy tôi lại hô: “Hồi cư!”
Bác Xiển trai sai Hương dẫn đường cho chúng tôi vì, theo lời cắt nghĩa của thầy tôi sau này, con bé đi “thám thính” thì không ai nghi ngờ, trong khi đó cả gia đình bác phải ở trong nhà, thắp đèn Hoa-kỳ giã gạo, xay bột rầm rập, bóng người in rối rít lên vách, du kích quân tưởng tất cả đang làm bún. Hương thoăn thoắt đi trước, qua nhiều đường tắt, một sườn đồi, một con suối cạn. Tôi nắm chặt tay thầy, đi mà run, vừa sợ du kích, vừa sợ hồn anh Nuôi đòi… đi theo. Tới bờ sông, nước đêm đã lên lớn hơn bác Xiển dự tính, tôi và Hương không tự lội qua được. Thầy cõng tôi, chị Cả đưa tay nải sang cho anh Dũng để cõng Hương. Mẹ và các anh các chị giắt díu nhau lội bì bõm. Trong ánh trăng mờ, tôi thích thú nhìn sang Hương đúng lúc nó cũng nhìn sang tôi. Khi sang bên kia bờ, mẹ ngồi xuống, ôm Hương vào lòng, vạch cổ nó, nhìn một miếng ngọc đeo bằng một sợi dây dù, mỉm cười hài lòng.
“Cháu tạm về, nhá,” mẹ vuốt tóc nó nói, “từ đây bác trai biết lối rồi.”
“Cho cháu theo tới chợ đi!” Hương rụt rè nói, mắt nhìn giòng sông đang lên.
Cả nhà nhìn con bé với vẻ ái ngại. Mẹ tôi nghĩ là nó sợ không dám lội về, vội nói:
“Cháu đừng ngại, anh Dũng cõng cháu sang sông. Hùng, Dũng! đứa nào cõng em về bên kia, mau!”
Anh Dũng vừa ngồi xuống sẵn sàng cho Hương bám cổ, nó lảng ra, nói như van lơn:
“Cho cháu… chơi thêm tí nữa.”
Câu nói của nó vừa làm tim tôi đập bình bình vì sung sướng. Tôi nhớ lại những ngày ở nhà bác Xiển, tôi chơi với nó vui biết bao nhiêu. Tôi không hề nghĩ tới việc khi hồi cư là chúng tôi phải chia tay. Khi tới bờ sông, tôi cũng không hề nghĩ khi qua sông là Hương hết nhiệm vụ đưa đường. Lúc này, tôi nghĩ nên nói hùa một câu với Hương, nhưng không hiểu tại sao, tôi không mở miệng được, và chân tôi như bị chôn xuống đất, mặc dầu tôi muốn bước lại gần nó để chứng tỏ tôi cũng thích chơi với nó thêm tí nữa. Nhưng có cái gì đó làm tôi ngượng ngập. Đó là lần đầu tiên tôi có sự rung động khác lạ.
“Rồi làm sao em về?” chị Cả hỏi Hương đang gặm gấu áo cánh.
“Em theo… chị ra chợ… Tan chợ em qua sông bằng đò,” Hương trả lời thành thạo.
“Vậy mình đi đi cho kịp xe ca, sáng bét rồi!” mẹ nói.
Tôi mừng rỡ, quên cảm giác lạ ban nãy, chạy lại ôm lấy nó. Hai đứa nắm tay nhau, chạy ù đi trước và bỏ người lớn một quãng thật xa.
“Về Hà Nội, anh không được chơi trò đố lá nữa,” tôi nói và đi chậm lại.
“Sao vậy, anh?” Hương hỏi.
“Nhà anh không có cây. Đằng trước chỉ có cây bàng. Không có bìm bịp, móng rồng, lưỡi rắn, mồng gà, cứt lợn, mõm chó… cái gì gì nữa.” Tôi chỉ nhớ những cây mang tên loài vật.
“Em cho anh cái này…” Hương móc trong túi áo cánh nâu một vật gì “Xòe tay ra!”
“Cái gì thế?”
“Đố anh biết!”
“Cái nụ hoa.”
“Hoa gì?”
“Anh không biết hoa gì.”
“Nói đi! Nói sai không kể.”
“Chịu thua.”
“Hoa chè đấy.”
“Thơm không?”
“Ngửi đi!”
Tôi đưa nụ hoa lên mũi hít vào.
“Chẳng ngửi thấy mùi gì sất.”
“Đưa đây! Bóc vỏ ra. Ngửi đi.”
“Hơi thơm… Càng bóc ra càng thơm… mùi chè.”
“Đã hẳn. Chè mà.”
“Ăn được không?”
“Anh nếm thử đi!”
“Chát chát.”
“Chờ một tẹo.”
“Ngòn ngọt.”
“Anh bóc hết ra đi!”
“Cánh hoa trắng quá, nhẩy? Cái nhụy vàng. Và thơm gớm!”
“Thơm lắm. Pha nước chè thơm lắm đấy.”
Hương nói, rồi móc trong túi ra một vộc nụ hoa trà, nói:
“Cho anh mang về Hà Nội.”
“Đút vào túi quần hộ!”
Tôi banh túi quần soọc ra cho Hương bỏ nụ hoa vào, nhưng nghĩ sao tôi lại banh túi ngực áo sơ-mi.
Hương dặn:
“Nhớ phơi khô đí!”
“Mấy nắng?”
“Em chả biết. Cứ khô thôi.”
Hôm mới về nhà bác Xiển, tôi đã cho Hương một hòn bi ve và một hòn bi sắt. Nhưng lúc này tôi nghĩ phải cho nó cái gì để làm… kỷ niệm. Trong túi tôi có mấy hột na mà tôi cho là một loại hột kỳ lạ.
“Cho em cái này…” tôi vét túi đưa cho Hương mấy hột na.
“A! Hột na!”
“Em biết hột na nó mọc làm sao không?”
“Em chả biết.”
“Nó biết nhảy đí.”
“Thảo nào, nó giống con bọ vắt. Sao em chả thấy nó nhảy?”
“Giồng xuống đất nó mới nhảy chứ lị!”
“Lạ quá, nhỉ? Ai bảo anh biết thế?”
“Chị Sen… Chị ấy bảo nó mọc chỗ nào phải lấy nồi đất mà úp… Thế mà có khi sáng ra chẳng thấy nó đâu.”
“Nó biết độn thổ nữa à?”
“Không. Chị ấy thấy cái nồi có cái lỗ. Tại hột na bung ra đí mà, khiếp chưa?”
“Eo ơi!”
Con Hương rụt cổ lại, muốn trả lại hột na.
“Không sao đâu. Em vùi nó xuống đất, rồi lấy cái gáo dừa mà úp, bên ngoài úp thêm cái nồi đất là nó biệt có nhảy đi đâu được.”

oOo

Cô nhiếp ảnh viên cùng tôi đang ngồi xe lửa trở về Sài Gòn. Thấy tôi ngồi thừ nhìn đăm đăm qua cửa sổ, Karin nói:
“Đông! Chắc anh lại thấy thêm một cái gì… sau năm mươi năm?”
“Không, lần này tôi lại tìm một cái không thấy…” Tôi trả lời.
Tôi muốn nói cây na.
“Anh nói lạ, cái gì?” Karin dò hỏi.
“Cây na. Lại một loại cây tôi không biết tiếng Na-uy gọi là gì. Một loại cây ăn trái.”
“Có gì đặc biệt với trái đó?”
“Trái này cũng có nhập cảng từ Thái-lan vào Na-uy. Hình thù giống trái lựu đạn, ngon lắm. Nhưng không phải vị ngon của nó làm tôi ngẩn ngơ đi tìm.”
“Chứ cái gì?”
“Hạt nó biết nhảy!”
Và tôi kể cho Karin nghe câu chuyện về hạt na phải nhảy chỗ khác để nảy mầm như tôi đã kể cho bé Hương năm mươi năm trước.
“Có thật không?” Karin hỏi.
“Không biết. Cho tới bây giờ tôi vẫn tin như thế.” Tôi trả lời.
“Có phải anh là người duy nhất tin?”
“Còn hai người khác. Người thứ nhất là chị Sen, chị đã chết trong trận đói lớn. Người thứ hai là Hương.”
“Bây giờ Hương… bà Hương ở đâu?”
“Tôi không biết. Thầy tôi không đưa gia đình về Hà Nội mà lại về nhà bà nội dưới quê. Bác Xiển cũng đưa gia đình về thăm chúng tôi, ở khoảng một tháng. Đó là một tháng thần tiên nhất đời tôi. Tôi dắt Hương đi câu cá, cỡi trâu, chơi chòi, chơi đố lá, ướp hoa trà. Vào tuần thương khó trước lễ Phục sinh, dân làng hái hoa soan thơm trộn với ‘bỏng’, bỏ vào quan tài Chúa Giêsu, cho giáo dân tới kính viếng và hôn. Trẻ con như tôi thấy chân Chúa có dấu đinh và máu me thì sợ lắm, nhưng lại ham bỏng, nên rủ nhau vào ‘viếng mộ’ để hốt bỏng. Hốt mỗi đứa đầy một vạt áo dài xong, tôi và Hương leo lên gác chuông nhặt hoa soan để riêng, bỏng để riêng. Ăn hết bỏng, lại vào ‘viếng mộ’ nữa. Hoa soan trên gác chuông, được nắng, khô lại, gặp gió bay lả tả.”
Bỗng tôi ngưng kể, vì chợt nghĩ chắc Karin sẽ thấy nhàm chán phải nghe về những sắc hoa, mùi hương cô chưa bao giờ rung cảm.
“Rồi mối tình của anh với Hương ra sao?” Karin hỏi đùa.
“Trẻ con mau quên.”
Tôi nói nhưng biết đứa trẻ con đó vẫn còn trong tôi.
Xe lửa chạy qua những đồi chè, tôi im lặng ngắm. Hết những đồi chè lại tới những làng mạc tiêu điều, tôi kể tiếp cho Karin nghe về thời kỳ khủng bố có tên là cải cách ruộng đất.
“Một ngày kia, thầy tôi đi đâu vắng nhà cả nửa tháng. Về tới nhà, thầy gọi mẹ vào buồng, đóng cửa nói chuyện xầm xì, và tôi nghe mẹ khóc thút thít. Các anh chị sợ, chỉ đứng ngoài chờ tin dữ. Tôi cậy được cưng chiều, xô cửa vào, đứng bên thầy. Trong bóng tối, thầy cầm tay tôi kể lại tai họa vừa xảy đến cho gia đình bác Xiển. Hai bác bị đấu tố. Bác Xiển nhắn thầy lên để cứu em Hương, nhưng không kịp, hai bác đã chết, cả nhà đã tan nát, các anh chị và Hương không ai biết đi đâu. Mẹ hỏi tôi có biết tại sao em Hương quan trọng như thế đối với gia đình mình không. Tôi biết em quan trọng đối với tôi lắm lắm, nhưng tôi không biết nó quan trọng thế nào đối với gia đình tôi. Tôi lắc đầu thưa con không biết. Mẹ mở hộp tế nhuyễn lấy một miếng ngọc, trong ánh sáng lờ mờ, miếng ngọc xanh chiếu sáng thật đẹp. Mẹ đeo ngọc cho tôi, và nói hai gia đình đã hứa gả con cho nhau, chỉ chờ ngày trưởng thành là làm đám cưới.”
Karin chồm người về phía trước hỏi:
“Rồi có cưới nhau không?”
Tôi lặng người đi một lát rồi lắc đầu, đáp:
“Gia đình tôi di cư vào Nam, và bặt tin Hương từ đó. Hai chục năm sau Miền Nam đổi chủ. Tôi được chở ra Bắc ‘cải tạo’, tự tay trồng những cây trà thành nụ, nở hoa thơm ngát. Thỉnh thoảng tôi thấy hoa soan rơi trong gió hè. Một hôm đi qua xóm nghèo, tôi thấy một cái nồi đất nằm úp ngoài vườn một mái nhà tranh. Tự nhiên tôi nghĩ bên dưới cái nồi chắc có một hạt na. Nhìn thấy cái nồi bể một lỗ, có ngọn rau càng cua xanh non ngoai ra, tôi tưởng tượng hạt na đã nhảy đi nơi khác để nẩy mầm.
Gần đó, một người đàn bà đang lom khom tưới rau.”

Tâm Thanh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s