HÃY CỨU LẤY DALAT

HÃY CỨU LẤY DALATHayCuuLayDaLat001

Không biết Dalat đã in sâu vào ký ức tôi tự bao giờ! Chỉ biết là từ rất lâu trước khi được tận mắt nhìn thấy thành phố cao nguyên đầy mộng mơ nầy. Ngay từ thập niên 1950-1960 lần đầu tôi “nhìn” thấy Dalat qua những tấm ảnh trắng đen của ba tôi mang về sau những lần lưu diễn hoặc qua các tờ lịch treo tường. Chỉ nhìn thấy hình ảnh thôi, nhưng với trí óc trẻ thơ nhiều mơ mộng, trong đầu tôi khi ấy vẽ ra nhiều khung cảnh huyền ảo về miền đất nên thơ nầy. Mãi đến đầu thập niên 1970, khi bước chân vào Đại học tôi mới có dịp diện kiến Dalat, nàng tiên trong mộng, lầu đầu tiên trong đời.

Cảm giác của tôi lúc ấy khi nhớ lại thật bồi hồi xúc động và nôn nao khó tả. Từ đèo B’lao trở đi, cảnh vật hoàn toàn thay đổi khác lạ đối với một người chỉ sống ở đồng bằng như tôi. Từ lâu tôi vẫn có một thứ cảm tình kỳ lạ đối với cây thông, một sự yêu thích đến mức khó tin. Chỉ cần xuất hiện vài dòng chữ trong thơ văn bắt gặp đó đây, chẳng hạn đồi thông, rừng thông, thông reo…đều gợn lên trong lòng tôi một nỗi xao xuyến nhẹ nhàng…

Vậy là tôi đã gặp được thông! Hình ảnh cây thông đầu tiên tôi nhìn thấy là tại khu vực trường Trung học Nông-Lâm-Súc Bảo Lộc. Và từ đó trở đi đến Dalat, tôi không hề rời mắt khỏi khung cửa sổ xe đò để không bỏ lỡ bất cứ hình ảnh nào về Dalat của lần hạnh ngộ đầu tiên. Dalat lần đầu tiên tôi gặp, hoàn toàn không giống những gì tôi đã từng tưởng tượng ra. Dalat vẫn đẹp như tôi nghĩ, nhưng là một vẻ đẹp não nùng hơn, bàng bạc như sương khói! Dalat, một thành phố trong mơ! Dalat là một thành phố lung linh, huyền ảo! HayCuuLayDaLat003

Hành nghề kiến trúc, tuổi ngoại ngũ tuần, nhiều năm nay tôi cố gắng giữ thông lệ mỗi năm một lần cùng gia đình đến với Dalat để cùng tìm lại không khí và khung trời kỷ niệm ngày xưa. Tuy nhiên, mỗi lần gặp lại Dalat là thêm một lần buồn tiếc! Dalat đã quá nhiều thay đổi! Những người bạn cũ hoặc bất cứ ai đã từng sinh trưởng, đã từng sống lâu, đã từng yêu quí Dalat trước đây như tôi, đều có chung nhận định Dalat đã thay đổi đến mức kinh ngạc, theo chiều hướng xấu, càng lúc càng tệ hại. Thời gian vốn dĩ tàn phá dung nhan con người, nhưng cũng có sức tàn phá thiên nhiên đến thế nầy sao!

Đã rất nhiều lần tôi có ý định viết về Dalat trước khi quá trễ (nay thì đã trễ thật rồi: 2012!). Trước đây cũng đã có rất nhiều ý kiến về vấn đề nầy trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng tất cả đều rơi vào quên lãng. Tôi sợ mình tiếp tục là hạt cát trong sa mạc, chỉ là kẻ múa rìu qua mắt thợ và mọi ý kiến chẳng được ai ghé mắt tới. Tuy nhiên “thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối”. Ngay sau Tết nguyên đán Đinh Hợi vừa qua (2007), tôi một mình một ba lô trở lại Dalat và chứng kiến bao đổi thay đáng buồn. Được sự khuyến khích của vài người bạn tâm huyết với Dalat và qua hàng loạt bài báo kêu cứu về Dalat hiện nay, thôi thúc tôi phải lên tiếng với công luận với chút hy vọng mong manh: phải làm gì đó cho Dalat, dù chỉ là gióng lên tiếng chuông muộn màng…

I. DALAT MỘT CHÚT HOÀI NIỆM.

HayCuuLayDaLat005Dalat của thập niên 70 không như bây giờ. Đó là một thị xã miền cao nguyên êm đềm, lặng lẽ, nên thơ, đẹp huyền hoặc, đầy nét mộng mơ, quyến rũ. Dalat không giống bất cứ thành phố nào của Việt Nam. Nói về Dalat người ta âu yếm dùng mọi mỹ từ thân thương nhất để gọi tên thành phố nhỏ bé nầy: thành phố sương mù, thành phố hoa đào, thành phố mộng mơ, thành phố cao nguyên…và sau nầy là miền đất lạnh, thành phố buồn, thành phố mưa bay (theo tên các bản nhạc nổi tiếng về Dalat).

Ôi!… Đà Lạt là thơ… Bài thơ mến yêu reo muôn đời, Dệt bằng tiếng gió ngàn reo Qua đồi thông hay bên… bờ suối! Ôi, Đà Lạt là mơ!…(1)

Nói Dalat hoàn toàn không giống bất cứ thành phố nào khác của VN quả không ngoa. Dalat là sự phối hợp tuyệt vời giữa cảnh sắc, địa hình thiên nhiên, khí hậu mát mẻ trong lành của cao nguyên, kiến trúc hài hòa và con người thanh lịch.

1. Vào thập niên 70’ Dalat chỉ khoảng 80.000 dân.

HayCuuLayDaLat007Một thành phố thanh lịch tuyệt vời, một thành phố dường như chỉ có trong mơ, cho dù cuộc chiến đang hồi khốc liệt. Cảnh vật Dalat khi ấy, tôi còn nhớ như mới hôm qua, còn nguyên vẻ hoang sơ của núi rừng cao nguyên. Thông mọc khắp nơi: thông trên núi, thông trong rừng, thông tràn ra phố thị, thông chen chúc lẫn vào trong các biệt thự, dinh thự (như dinh Thị trưởng chìm khuất trong rặng thông: nhìn từ xa, đồi thị trưởng được viền bằng hàng thông xanh thẩm).

Còn hoa?

Dalat là xứ sở của muôn hoa. Hoa mọc khắp nơi. Hoa trồng trong các dinh thự, tu viện, nhà thờ, chùa chiền, trường học. Hoa trồng trong công viên. Hoa hiện diện trong các biệt thự, nhà ở. Hoa không trồng, hoa dại cũng tràn ngập các lối đi, vệ đường, ven hồ…như hoa qùy, pissenlit (bồ công anh), églantine (hoa hồng dại), glaïeul, forget-me-not, pensée, gueule-du-loup…

Ngày xưa đi du lịch Dalat là mơ ước của nhiều người, tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng đến được (2). Chỉ có giới thượng lưu, khá giả, trí thức mới có điều kiện thực hiện ước mơ nầy thường xuyên; giới trung lưu, công chức thường thường bậc trung, mấy ai dám nghĩ đến. Còn đi theo tours do các cơ quan quen tổ chức “đại trà” như hiện nay thì hầu như không có vì tình hình kinh tế thời chiến lúc ấy.

Yếu tố tiên quyết làm nên một Dalat độc đáo chính là khí hậu. Không khí Dalat mát lạnh quanh năm. Do đó bất cứ tấm ảnh kỷ niệm nào của du khách đến Dalat đem về cũng khoe ra áo len, áo khoác…Thuở tôi còn ở Dalat, có lúc nhiệt độ buổi sáng xuống tới 4 độ C. Những tưởng khí hậu Dalat là món quà thiên nhiên ưu ái vĩnh viễn trao cho Dalat! Thế nhưng thiên nhiên ban tặng có điều kiện, nghĩa là phải biết quí trọng và nâng niu gìn giữ…HayCuuLayDaLat011

Cảnh vật Dalat ngày ấy hoàn toàn thuộc về thiên nhiên, hoang sơ, tĩnh lặng, không có sự can thiệp thô bạo của bàn tay con người, cũng như không có sự khai thác cạn kiệt, bất chấp hậu quả, để mang lại lợi nhuận cao nhất như cách làm hiện nay. Khi ấy hồ Than thở (Lac des Soupirs thời Pháp) vẫn còn xanh mượt đồi thông bao quanh. Rừng Tùng Nguyên, nơi thường tổ chức các trại huấn luyện hướng đạo sinh (boy-scout) kề bên vẫn còn nguyên khung cảnh núi rừng của “đồi thông hai mộ”, thâm u, tĩnh mịch (ngay cả 2 ngôi mộ nầy ngày nay cũng bị làm giả, sơn phết lòe loẹt và thiên tình sử của người nằm dưới hai ngôi mộ kia cũng bị làm giả luôn, chế biến thêm để móc hầu bao du khách).

Nước hồ xanh trong, tiếng thông rì rào trong gió càng gợi thêm bầu khí u hoài. Như đã nói, Dalat lúc bấy giờ rất vắng người, làm tên hồ càng hòa hợp với khung cảnh của nó. Hồ Đa Thiện (Khu DL Thung lũng tình yêu ngày nay) khởi đầu được hình thành bằng cách xây một con đập chận dòng suối nhỏ. Dòng chảy bị ngăn, ứ lại thành hồ, nhấn chìm những cây thông hiện hữu đang sống trong lưu vực hồ. Loài cây quân tử nầy cho thấy sức mạnh bền bĩ đáng nễ. Chúng sống rất dai, mãi vài năm sau mới chết, vô tình biến hồ Đa Thiện thành một khung cảnh ngoạn mục: giữa cảnh trời xanh bao la, rừng núi xanh, những rặng thông cành lá xanh rì ngạo nghễ vươn mình lên khỏi mặt nước xanh biếc…

Ngày ấy, những hồ Mê Linh, Vạn Kiếp chưa bị hóa kiếp. Thác Cam Ly vẫn còn là dòng thác nổi tiếng chào đón du khách ngay tại trung tâm thị xã, như một câu thơ ghi trên tấm bưu ảnh vẫn ghi đậm trong trí tôi mãi đến hôm nay:

Đà Lạt có thác Cam Ly, Có hồ Than thở muốn đi không về.

HayCuuLayDaLat009Xa hơn, thác Datanla ầm ì đổ xuống từ vách đá cao, hung hãn, hoang dã. Muốn đến được chân thác, du khách chỉ có cách… bò. Thác Prenn hiền hòa dưới chân đèo, ngay cửa ngõ Dalat. Đi xa hơn nữa, thác Liên Khương và thác Gougah cuồn cuộn chảy, tung bọt trắng xóa gần giống thác Pongour chứ không khô khốc hoang tàn như bây giờ! Thác Pongour, ngọn thác hùng vĩ, hoang dại nhất cao nguyên Lâm Viên, cách trung tâm Dalat khoảng 50km – ngày ấy khó đến được vì lý do an ninh. Một trong những khung cảnh đẹp tuyệt vời còn y nét trinh nguyên của Dalat, nơi bác sĩ Yersin khi mới tìm ra Dalat, định đặt làm trung tâm cho vùng đất cao nguyên vừa khám phá, đó là vùng Dankia, là suối Vàng và đập Ankroët. Vào thập niên 70, rất ít ai dám đặt chân đến đây vì điều kiện an ninh, trừ người Thượng và một vài bạn trẻ thích phiêu lưu mạo hiểm. Tuy nhiên khi đã đến được suối Vàng và đi sâu vào cánh rừng thông non ven hồ Dankia, nhìn thấy chân dãy Langbian mướt một màu xanh phía bên kia HayCuuLayDaLat013hồ nước mênh mông, gợn sóng lăn tăn, với tiền cảnh là những cành thông vi vu muôn đời trong nắng sớm, ta mới cảm nhận được một phần nào cảnh thần tiên trong mộng!

Dalat quả là một báu vật, là món quà quí giá thiên nhiên ưu ái ban tặng cho người dân Việt. Cũng có thể do hồng phúc của trời đất dành cho những kẻ yêu nhau, mà tất cả những gì hay đẹp của Dalat đều được người đời liên hệ đến Tình yêu.

Nầy nhé, khu rừng thơ mộng nhất của Dalat khi xưa được gọi là rừng Ái Ân (Forêt d’Amour), khu vực hồ Đa Thiện là thung lũng Tình Yêu (Vallée d’Amour), con đường Cộng Hòa nhỏ bé dẫn lên Dinh Thị trưởng ngày xưa, con đường thơ mộng tuyệt vời, vắng lặng, viền hai hàng thông già cao lớn, âm u, được các đôi tình nhân gọi là con đường Tình Ái (Sentier d’Amour)…

2. Còn con người Dalat thì sao?

HayCuuLayDaLat015 (3) Với những dòng trên đây, hẳn nhiều người, nhất là các bạn trẻ cho đó là những lời tán dương quá “cường điệu” ! Tuy nhiên người đọc dễ dàng kiểm chứng điều đó qua hình ảnh, tài liệu xưa (ngày nay không thiếu trên internet), nhất là qua những người lớn tuổi đã từng sống và yêu quí thị xã cao nguyên nầy…Những người Dalat của lần gặp gỡ đầu tiên đã gây cho tôi ấn tượng sâu xa khó tả! Một chàng trai lặng lẽ ngồi một mình trên bậc cấp nhà thờ chính tòa (thật hiếm thấy ở Sài Gòn). Những đôi uyên ương dìu nhau từng bước nhỏ bên hồ. Các em học sinh tan trường từng nhóm đi về vui tươi, nhưng không quá ồn ào. Nầy cụ già mặc áo veste, foulard choàng cổ chống canne chầm chậm bước. Không có gì vội vã! Tất cả đều thanh bình, lặng lẽ. Người Dalat như vậy đó! HayCuuLayDaLat019

Người Dalat ngày ấy hình như e ngại sự lớn tiếng! Họ trao đổi với nhau khẽ khàng, dù khi mặc cả mua bán, kể cả khi … ăn nhậu. Giới buôn bán hầu như không có tật nói thách. Ấn tượng đầu tiên của tôi về cách ăn mặc của người Dalat không thể nào quên. Nam phụ lão ấu, hầu như ai cũng đội bonnet (mũ len trùm đầu, có ngù tròn trên chóp nón – ngày nay không còn thấy ai sử dụng), áo len bên trong, khoác ngoài là blouson, veste, manteau (dài ngang trên gối) hoặc pardessus (dài quá gối). Một vài người quàng foulard. Điều đặc biệt trong trang phục người Dalat là tất cả đều mang giày (ngay cả dân Sàigòn lúc ấy mang giày cũng không nhiều lắm). Đàn ông lớn tuổi thường mặc veston, thắt cravate chĩnh tề. Nữ sinh trường ta mặc áo dài trắng khoác áo len màu xanh đen, hoặc áo dài xanh khoác áo len đen tùy theo mùa. Thuở ấy với khí hậu ấy, cảnh trí ấy, con người ấy, với môi trường sống và thiên nhiên ấy của Dalat, đôi khi tôi cứ nghĩ mình đang sống tại một thành phố Châu Âu nào đó, chứ không phải trên đất nước nhiệt đới, chiến tranh tàn khốc nầy. Một ngạc nhiên lớn, một đặc biệt của Dalat lúc đó là má các cô gái Dalat thường đỏ au. Hiện tượng đáng yêu nầy đã đi ngay vào thơ ca ( Má hồng Dalat, Dalat má đỏ môi hồngHayCuuLayDaLat017…).

Phong cách người Dalat còn thể hiện rất rõ ở nét văn hóa và kiến thức của họ. Có lẽ được sống trong một bầu khí đậm chất trí thức và thanh lịch, phảng phất dáng dấp Tây phương, nên thái độ ứng xử của người Dalat nhẹ nhàng, từ tốn, ít lời nhưng khúc chiết và nhiều tri thức. Những ngày đầu mới đến Dalat, tôi và một người bạn ra phố. Đang trò chuyện tương đắc với một người bán hoa kiểng tại một kiosque đầu dốc Khu Hòa bình, ông ta chợt quay vào trong lấy ra một quyển sách dạng livre de poche tựa đề “Mémoires de guerre” của Général De Gaulle (đây là hồi ký chiến tranh nhưng có tính chất văn học, rất kén người đọc) và “quảng cáo”: quyển nầy đọc được lắm!…Ngạc nhiên chưa! Chúng tôi tròn mắt, chưa hết ngạc nhiên thì nghe nổ một tràng tiếng Pháp giòn tan phía sau lưng: “Salut! Vous êtes bien portant?” Chúng tôi quay lại theo hướng nhìn của cậu thanh niên vừa nổ là một ông Tây lớn tuổi ra vẻ giáo sư bước tới…Cả hai tay bắt mặt mừng một cách thân tình.

Mô tả tường tận về Dalat với những dẫn chứng đầy đủ thì trong phạm vi bài viết ngắn nầy chắc chắn không thể nào đáp ứng được, tôi chỉ xin được khái quát đôi nét để người đọc hình dung được phần nào khung cảnh Dalat năm xưa.

3. Hiện nay tại VN, hầu hết các bài viết đều cho rằng Dalat là Tiểu Paris (Little Paris).

Tôi không nghĩ vậy. Paris dù sao cũng là thủ đô nước Pháp thuộc vùng đồng bằng với lâu đài, dinh thự nguy nga chen chúc, đường sá mạng ô cờ thẳng tắp, mật độ xây dựng dày đặc, không đồi núi trùng điệp, thiếu vắng cây xanh…Tiểu Paris dành cho Saigon có lẽ đúng hơn! Tôi nghĩ Dalat giống một thành phố miền núi của Thụy sĩ hoặc Bắc Âu hơn với các biệt thự mang dáng dấp các châlet, bungalow theo kiến trúc vùng Savoie, Normandie, Bretagne hoặc Pays-Pasque…với đồi cao lũng sâu và rừng thông ngút ngàn.

Đalat ngày ấy hiếm có công trình kiến trúc nào vượt quá ba tầng. Nhà ở của người dân tại khu trung tâm thường chỉ đến hai tầng. Các công trình ba tầng trở lên thường chỉ có ở các khách sạn như Palace, Dalat (nay là Dalat-Novotel) và các tu viện như dòng Chúa cứu thế, Giáo hoàng học viện Piô X. Các công trình nầy dù vô tình hay hữu ý đều hòa nhập vào khung cảnh thiên nhiên, chiều cao không hề vượt khỏi ngọn thông, không tham vọng phô trương áp chế thiên nhiên. Chính vì vậy, các công trình tuy do bàn tay con người tạo ra lại hòa hợp khéo léo với thiên nhiên, nương theo cảnh sắc, uốn mình theo thiên nhiên, chứ không tìm cách hủy hoại hay cải tạo nó một cách cưỡng bức như cách làm hiện nay (đổ đất, san bằng để tạo nên một cao trình đồng nhất cho cả khu đất xây dựng công trình).HayCuuLayDaLat023

Chỉ có hai công trình duy nhất vươn cao khỏi ngọn thông được nhìn thấy từ xa là tháp chuông nhà thờ chính tòa Dalat và tháp chuông Lycée Yersin, tạo nên một điểm nhấn kiến trúc (landmark) cần thiết, duyên dáng và sống động.

  1. Do tính chất nông nghiệp (chuyên canh rau, hoa), nên nhà cửa của cư dân Dalat khi ấy phân tán rải rác trong các thôn ấp như Hà Đông, Đa Thiện, Du Sinh, Thái Phiên, Chi Lăng…Nhà cửa của họ hầu hết thường do những thanh gỗ ghép lại, có khi để nguyên cả lớp vỏ ngoài, mái ngói (sau nầy là mái tôle). Những ngôi nhà nầy thường được dựng trên sườn đồi (theo đường đồng mức) hoặc trên một mặt bằng dưới thung lũng, giữa khu vườn của họ (hoặc riêng rẻ, hoặc quần cư theo từng nhóm nhỏ). Những ngôi nhà tuy đơn sơ bé nhỏ, nhưng hòa quyện hợp lý với khung cảnh thiên nhiên (những luống vườn bậc thang đất đỏ, màu sắc rực rỡ của hoa, màu xanh mơn mởn của rau cải, của đồi thông) tạo nên bức tranh muôn màu, một nét đặc trưng rất Dalat.

Tại trung tâm thị xã, nhà ở kết hợp thương mại tập trung chung quanh Khu Hòa Bình. Nhà ở của thị dân chủ yếu bám theo các trục đường khu Bùi thị Xuân, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hải Thượng, Võ Tánh, Khu nhà chung, Khu nhà bò…và ấp Ánh Sáng, một khu dân cư ngay lối vào chợ.

  1. Kiến trúc tiêu biểu của Dalat chính là biệt thự. Đây là hình thức kiến trúc cao cấp được nghiên cứu thiết kế đúng mực với kiểu dáng hài hòa, độc đáo, không hề lập lại, được bố trí hợp lý theo một ý đồ quy hoạch được tính toán hết sức chặt chẽ. Các biệt thự nầy nằm rải rác khắp nơi, nhưng tập trung nhiều nhất tại khu vực Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, Yersin (Trần Phú) và Lê Lai…HayCuuLayDaLat027
  2. Ngoài ra Dalat còn sở hữu một hình thức kiến trúc độc đáo khác, đó là công trình tôn giáo, nhà thờ, tu viện (4). Các công trình kiến trúc nầy thường tọa lạc trên một đỉnh đồi thấp và với thiết kế mỗi nhà một vẻ của mình, đã đóng góp vào cảnh sắc chung của Dalat những nét chấm phá hết sức quan trọng. Ta có thể kể đến các công trình tiêu biểu như Domaine de Marie (dòng Vincent de Paul), Couvent des Oiseaux (Notre Dame de Langbian), dòng Dominicaines, dòng Franciscaines, Providence, nhà thờ chính tòa, nhà thờ Cam Ly, Linh Sơn tự, Lăng Nguyễn Hữu Hào…Nhưng các kiến trúc thành công nhất theo trường phái hiện đại phải kể đến Giáo hoàng học viện Piô X và dòng Chúa Cứu thế, tuy được thiết kế, xây dựng theo xu thế hiện đại nhưng không hề phá hỏng cảnh quan kiến trúc chung của Dalat..HayCuuLayDaLat029
  3. Các công trình công cộng khác góp phần vào vẻ đẹp toàn bích của Dalat như: khách sạn Palace vừa là một tác phẩm có giá trị kiến trúc, vừa chiếm một vị trí rất quan trọng trong bố cục tổng thể của thành phố, tạo nên một góc nhìn (view) rất đẹp từ khách sạn nhìn về phía Langbian và trung tâm thị xã cũng như từ các hướng xa xa nhìn lại nó. Lycée Yersin với khối dáng kiến trúc cong nổi tiếng không những trong nước mà còn nước ngoài biết đến (5).

Ga Dalat với hệ mái đầy sáng tạo trong bố cục tạo hình, đầy mỹ thuật, được xem là kiến trúc nhà ga đẹp nhất Đông-Nam-Á (6). Ngoài ra ga Dalat đã từng sở hữu đầu máy xe lửa hơi nước và đường rail có răng cưa (cog railway) độc đáo hiếm có nơi nào trên thế giới đã bị tháo gỡ toàn bộ… (cầu xe lửa D’ran tự dưng bị tháo ra bán sắt vụn, còn đầu máy xe lửa bán lại cho Thụy sĩ và nước này đã phục chế lại thành xe lửa đón khách du lịch!!!)…

 

CHÚ THÍCH:

(1 ) Ca khúc Bài thơ hoa đào – Hoàng Nguyên.

(2) Du lịch thành phố thời kỳ này không còn nhộn nhịp như giai đoạn trước đó do chiến sự, tình hình an ninh không ổn định, các tuyến đường giao thông lên Đà Lạt không còn được an toàn và thiếu kinh phí tổ chức, khai thác. Thành phố trở thành nơi nghỉ mát của giới thượng lưu và sĩ quan, viên chức có thế lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cùng một số người ngoại quốc tới miền Nam Việt Nam công du hay kinh doanh, du lịch.

(3) Năm 1946, do chiến tranh, dân số Đà Lạt chỉ còn 5.200 người khiến người Pháp gọi nơi đây là “thành phố quạnh hiu”. Nhưng bắt đầu từ năm 1947, thành phố dần đông đúc trở lại khi nhiều người dân hồi cư. Cuối năm 1952, dân số Đà Lạt lên đến 25.041 người, gần tương đương thời điểm năm 1944. Khi người Pháp trở lại nắm giữ Đà Lạt năm 1946, các hoạt động kinh tế xã hội cũng dần trở lại bình thường. Bộ máy chánh quyền Đà Lạt được tổ chức lại, Tòa Đốc lý được đổi thành Tòa Thị chánh và thị xã do một thị trưởng quản lý với sự tham dự của Hội đồng thị xã. Vào thời kỳ này, Đà Lạt được chia thành 10 khu phố, định danh từ 1 đến 10, với 30 ấp. Năm 1950, Triều đình Huế quyết định tách Tây Nguyên thành một đơn vị hành chánh riêng, Bảo Đại ra Dụ số 6 ngày 14 tháng 4 năm 1950 thành lập Hoàng triều Cương thổ với Đà Lạt làm thủ phủ. Ngày 10 tháng 11 cùng năm đó, Bảo Đại tiếp tục ra Dụ số 4 với nội dung sửa đổi địa giới hành chánh thị xã Đà Lạt và sáp nhập một phần tỉnh Lâm Viên vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Từ năm 1954 đến năm 1963, chánh quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm có kế hoạch phát triển Đà Lạt khá quy mô, xây dựng các công trình văn hóa nghệ thuật, cơ sở hạ tầng đô thị được chỉnh trang, nâng cấp. Nền kinh tế thành phố vẫn giữ nguyên định hướng phát triển du lịch và nông nghiệp. Đà Lạt khi đó trở thành địa điểm của rất nhiều các cơ quan liên tỉnh, quốc gia và liên bang. Trong những năm 1960, dân số Đà Lạt gia tăng đều hòa, từ 73.000 người năm 1965 lên gần 90.000 người năm 1970. Nhưng từ sau 1970, khi chiến tranh Việt Nam ngày càng khốc liệt, dân số Đà Lạt cũng có những biến động đáng kể, đến năm 1975 chỉ còn 85.833 người. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, 31 tháng 3 năm 1975, quân đội miền Nam rút khỏi Đà Lạt và sáng 3 tháng 4, quân đội miền Bắc tiến vào thành phố.

(4) Đặc biệt từ năm 1958, sau Đại hội Lâm Viên – Đà Lạt, chánh quyền Sài Gòn với Chương trình khai thác Cao nguyên Trung phần muốn biến Đà Lạt thành một trung tâm du lịch quốc tế, đã mở ra hướng dịch vụ mới về giáo dục và nghiên cứu khoa học. Hàng loạt các trường học, trung tâm văn hóa và cơ sở nghiên cứu ra đời vào thời kỳ này, có thể kể đến Viện Đại học Đà Lạt, Giáo hoàng Học viện, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử, Thư viện Đà Lạt… Nhiều công trình phục vụ du lịch, các sơ sở tôn giáo cũng tiếp tục được xây dựng và sửa chữa, như chợ Đà Lạt, phi trường Liên Khương, nhà thờ Cam Ly, chùa Linh Phong. Đà Lạt trước năm 1975 cũng đã là một thành phố đa dạng về tôn giáo với hơn 40 ngôi chùa cùng các nhà thờ, tu viện của 29 dòng tu Công giáo.

(5) Lycée Yersin được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được đánh giá cùng với Ga xe lửa Đà Lạt là 2 công trình có trình độ kỹ thuật xây dựng và mỹ thuật đẹp nhất Đông Dương. Hội Kiến trúc sư thế giới cũng giới thiệu Trường Lycée Yersin Đà Lạt nằm trong top 1.000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới trong thế kỷ 20.

(6) Được xếp hạng di tích quốc gia 28.2.2001.

 

Advertisements